Xuất Khẩu Cà Phê Đạt 8,5 Tỉ USD: Lượng Tăng 21 Phần Trăm, Kim Ngạch Chỉ Tăng 1 Phần Trăm
Niên vụ cà phê 2025-2026 ghi nhận kim ngạch xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay, đạt khoảng 8,5 tỉ USD; tuy nhiên, sản lượng tăng 21 phần trăm trong khi giá trị chỉ tăng khoảng 1 phần trăm do giá cà phê đã giảm so với giai đoạn đạt đỉnh trước đó. Giá cà phê trong nước sáng 21 tháng 10 tăng nhẹ, phổ biến ở mức 93.200 đến 94.000 đồng mỗi ký.

TÂY NGUYÊN, ngày 21 tháng 10. — TÂY NGUYÊN, ngày 21 tháng 10. — Giá cà phê trong nước đầu giờ sáng hôm nay tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên tăng nhẹ so với phiên giao dịch liền kề trước; hiện giá cà phê dao động trong khoảng 93.200 đến 94.000 đồng mỗi ký, mức giá trung bình phổ biến ghi nhận vào khoảng 93.900 đồng mỗi ký. Cụ thể, thấp nhất khu vực là tại Lâm Đồng với 93.200 đồng mỗi ký; tại Gia Lai, Đắk Lắk 93.800 đồng mỗi ký; giá cao nhất là tại Đắk Nông với 94.000 đồng mỗi ký.
Theo số liệu được Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam công bố tại hội nghị mới đây, sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ 2025-2026 ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 6 đến 10 phần trăm so với vụ trước; trong đó, Robusta chiếm hơn 90 phần trăm tổng sản lượng. Xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,8 triệu tấn, tăng 21 phần trăm so với niên vụ 2024-2025. Dù vậy, kim ngạch chỉ tăng khoảng 1 phần trăm, đạt 8,5 tỉ USD; chênh lệch này chủ yếu đến từ việc giá cà phê đã giảm so với giai đoạn đạt đỉnh trước đó.
Kim Ngạch Kỷ Lục Nhưng Giá Trị Tăng Không Tương Xứng
Cà phê nhân vẫn chiếm phần lớn lượng hàng xuất khẩu, với khoảng 1,65 triệu tấn, mang về gần 7 tỉ USD; so với niên vụ trước, sản lượng tăng 21,4 phần trăm nhưng giá trị giảm 1,5 phần trăm. Niên vụ cà phê 2025-2026 ghi nhận kim ngạch xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay, đạt khoảng 8,5 tỉ USD; tuy nhiên, giá cà phê giảm khiến mức tăng về giá trị thấp hơn nhiều so với sản lượng xuất khẩu.
Thị trường trong nước ghi nhận xu hướng tương tự: cuối tháng 9, giá cà phê tại Tây Nguyên phổ biến ở mức 93.000 đến 93.600 đồng mỗi ký, giảm đáng kể so với mức 115.000 đến 118.000 đồng mỗi ký vào cuối năm 2025. Theo Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam, nguồn cung thế giới đang dần phục hồi, tạo sức ép lên giá cà phê; tuy nhiên, nhiều nông dân trong nước có xu hướng giữ hàng và chỉ bán khi cần thiết, thay vì bán ồ ạt ngay sau thu hoạch.
Hồ Tiêu Và Lúa Gạo Biến Động Nhẹ
Giá tiêu trong nước hôm nay giữ ở mức 138.000 đến 140.500 đồng mỗi ký. Cập nhật dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, các thị trường xuất khẩu hồ tiêu duy trì mức giá của ngày hôm qua: tiêu đen Lampung của Indonesia ở mức khoảng 6.800 USD mỗi tấn, không biến động so với hôm trước; giá tiêu trắng Muntok khoảng 9.300 USD mỗi tấn. Tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA giao dịch ở mức 9.100 USD mỗi tấn, không thay đổi; giá tiêu trắng ASTA đạt 12.100 USD mỗi tấn, đi ngang. Giá hồ tiêu Brazil không ghi nhận biến động, giao dịch ở mức 5.800 USD mỗi tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam hiện giao dịch ở mức 8.450 USD mỗi tấn; giá tiêu đen Việt Nam loại 500 gram mỗi lít và 550 gram mỗi lít đạt khoảng 6.000 USD mỗi tấn.
Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động nhẹ, giao dịch mua bán chậm. Giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động 6.400 đến 6.500 đồng mỗi ký; lúa tươi IR 50404 ở mức 5.900 đến 6.000 đồng mỗi ký; lúa tươi OM 18 dao động 6.400 đến 6.600 đồng mỗi ký; lúa tươi OM 34 ở mức 5.800 đến 6.000 đồng mỗi ký; lúa tươi DS1 dao động 6.500 đến 6.600 đồng mỗi ký; lúa tươi OM 5451 ở mức 6.000 đến 6.200 đồng mỗi ký. Hiện, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.750 đến 8.850 đồng mỗi ký; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 ở mức 8.800 đến 8.900 đồng mỗi ký; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động 9.300 đến 9.400 đồng mỗi ký; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700 đến 8.850 đồng mỗi ký; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 đến 9.400 đồng mỗi ký; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và gạo Sóc thơm dao động 7.500 đến 7.600 đồng mỗi ký. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đi ngang: gạo thơm 100 phần trăm tấm đạt khoảng 375 USD mỗi tấn; gạo Jasmine khoảng 519 USD mỗi tấn; gạo thơm 5 phần trăm tấm khoảng 445 USD mỗi tấn.